Tử Vi

SAO THÁI DƯƠNG TỌA THỦ CUNG MỆNH

Cự Môn chủ về “ám”, Thái âm chủ về “phú”, Thiên Lương chủ về “sang quý thanh cao”. Ba tính chất cơ bản này sẽ ảnh hưởng đến Thái dương thủ mệnh. Cho nên, về đại thể, Thái dương gặp Cự Môn là người chỉ có hư danh, Thái dương gặp Thái âm là người…

Thái dương tọa mệnh thực ra có 3 đặc điểm như sau:

(1)- Một là: hào phóng. Nói “hào phóng”, có nghĩa là không tính toán, so đo tiểu tiết. Cho nên người có Thái dương thủ mệnh thường làm cho người khác phải ghi nhớ trong lòng.

(2)- Thứ hai: danh lớn hơn lợi. Trong Đẩu Số, Thái âm chủ về Phú, Thái dương chủ về Quý. Cho nên người có Thái dương tọa mệnh, bất kể sự nghiệp phát triển lớn đến mức nào, cũng chưa chắc là “cự phú”, thậm chí có lúc bản thân không giầu có bằng người dưới quyền của họ.

(3)- Thứ ba: tâm cao khí ngạo. Dù là người ở địa vị dưới cũng thường không phục thượng cấp, trừ khi thượng cấp của họ rất có danh vọng, hoặc rất có tài lãnh đạo. Người có Thái Dương thủ mệnh, thường cảm tháy vận khí của mình không được tốt, mà chẳng cảm thấy chính mình có chỗ không bằng người.

Thái Dượng tọa mệnh có ba loại phối hợp

Thái Dương đồng cung với chính diệu khác, chỉ có 3 tình huống. Một là lúc đồng độ với Thái âm ở cung Sửu hoặc cung Mùi; hai là lúc đồng độ với Cự Môn ở cung Dần hoặc cung Thân; ba là lúc đồng độ với Thiên Lương tại cung Mão hoặc cung Dậu. Ở sáu cung Tý, Thìn, Tị, Ngọ, Tuất,
Hợi còn lại, đều là Thái dương đọc tọa.

Nhưng Thái dương độc tọa cũng có 3 tình huống khác nhau. Thái dương độc tọa ở hai cung Tý hoặc Ngọ, nhất định sẽ đối nhau với Thiên Lương, Thái dương độc tọa ở hai cung Tị hoặc Hợi, nhất định sẽ đối nhau với Cự Môn, Thái dương độc tọa ở hai cung Thìn hoặc Tuất, nhất định sẽ đối nhau với Thái âm.

Cho nên, Thái dương có quan hệ với chính diệu, thực ra chỉ có 3 sao Cự Môn, Thiên Lương, Thái âm, và chia thành hai tình huống: đồng cung và đối cung.

Phái Trung Châu nghiên cứu đặc tính của Thái Dương, rất chú trọng mối quan hệ của Thái dương với Thái âm, Cự Môn, Thiên Lương, mà không chỉ chăm chú vào tình hình Thái dương ở cung độ sáng hay tối.

Cự Môn chủ về “ám”, Thái âm chủ về “phú”, Thiên Lương chủ về “sang quý thanh cao”. Ba tính chất cơ bản này sẽ ảnh hưởng đến Thái dương thủ mệnh. Cho nên, về đại thể, Thái dương gặp Cự Môn là người chỉ có hư danh, Thái dương gặp Thái âm là người có thể phú quý, cũng có thể chỉ thuộc loại tiểu phú quý, thậm chí chỉ là người ở bậc trung có chút quyền lực, Thái dương gặp Thiên Lương là người quá tuân thủ nguyên tắc, thành nhân vật được người trong giới chuyên nghiệp biết đến, nhưng
không phải là người trong đại chúng nghe danh.

Đương nhiên, trên chỉ là những đặc tính cơ bản, tình hình cụ thể vẫn phải cần xem xét các sao hội hợp khác mà thay đổi.
Thái Dương thủ mệnh vào hành chính, y khoa hoặc công tác xã hội thì hợp và có thể đạt địa vị cao. Nhưng buôn bán kinh doanh hoặc làm những việc gì cần mưu lợi, thủ đoạn lại thường rất dở. Trong khi Thái Âm dễ vào kinh doanh, không phải vì Thái Âm giảo quyệt nhưng Thái Âm tham hơn
Thái Dương chủ QUÝ cho nên khi đoán Thái Dương thủ mệnh phải căn cứ trên chức vị, danh vọng. Không phải bất phú là nghèo. Có địa vị, tất nhiên địa vị càng cao tiền càng nhiều. Bất phú nghĩa là không tự mình làm nên giàu có thế thôi. Ở trường hợp Thái Dương đóng Tài Bạch cung đắc địa lại khác.

Thái Dương cần nhất đắc địa thì ánh sáng mới quang minh. Thái Dương đóng Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ là mặt trời rực rỡ buổi sáng buổi trưa.Thái Dương đóng Dậu, Tuất Hợi ví như mặt trời buổi đêm đã mất quang huy. Ngoài đứng đúng chỗ, Thái Dương còn đòi hỏi người mang số Thái Dương phải sinh ban ngày mới là hợp cách, sinh ban đêm giảm đi. Sinh ban ngày dù Thái Dương hãm cũng nửa hung nửa cát, sinh ban đêm Thái Dương hãm tuyệt đối hung.

Thái Dương được cổ nhân gọi bằng “trung thiên chi chủ” (chủ tinh giữa trời), giống sao Tử Vi cần bách quan tề tựu. Tất nhiên không bao giờ có Thiên Phủ Thiên Tướng triều củng.

Cách đẹp là Thái Dương đóng ở Thìn hội chiếu Thái Âm đóng ở Tuất, gọi là Nhật Nguyệt song huy hay Nhật Nguyệt tịnh minh. Thái Dương thuộc Hoả, quang minh chính đại, thông minh sái lệ, tài hoa.

Trong ngũ hành trí tuệ Thuỷ có sự khác biệt nhau. Trong hàng ngũ các sao, sự đa tài của Thái Dương cũng vậy, khác với sự đa tài của Thiên Cơ. “Trí tuệ của âm Mộc thâm trầm. Trí tuệ của dương Hoả quang minh lộ liễu”

Thái Dương đa tài về mặt biểu hiện làm chính trị, ra đám đông hoặc vào nghệ thuật biểu diễn như nhạc họa, kịch nghệ là hợp cách. Thiên Cơ đa tài với kế hoạch trong bóng tối, làm chính trị ở địa vị nghiên cứu, phân tích tình báo hoặc vào thuật số âm dương viết văn là hợp cách.
Thái Dương thuộc Bính Hoả mãnh liệt, hoá khí là “QUÝ” chứa chất phản kháng tính. Phá Quân cũng phản kháng nhưng thường có khuynh hướng phản nghịch. Khác nhau thế nào? Vì Thái dương bản chất quang minh,
thấy điều trái thì chống, nhưng chống đối với nguyên tắc không đi quá đà

đến mức phản nghịch. Trong khi Phá Quân cương mãnh làm theo ý mình muốn dễ quá khích đi đến phản nghịch
Thái Dương đóng cung Quan lộc đắc địa ý niệm khai sáng mở lối cao và vững. Một ngành nào đang trên đà xuống dốc vào tay người Thái Dương quan lộc khả dĩ sẽ hưng thịnh trở lại. Thái dương ở Tài bạch dễ có tiền, ưa phô trương tiền bạc qua ăn chơi, chưng diện …

Mệnh Thái Dương có một cách đặc biệt – ấy là Thái Dương thủ Mệnh tại Hợi. Tại Hợi cung Thái Dương là phản bối. Thái Dương mất đi vẻ huy hoàng – tương ý là mặt trời đêm. Thái Dương tại Hợi đi vào một trong hai tình trạng cực đoan: hay cũng vô cùng mà dở cũng vô cùng; rất thuận lợi hoặc rất khốn khó.

Thái Dương đóng Hợi nếu có trợ giúp của xương Khúc, Tả Hữu, Khôi Việt thì tuy thất huy nhưng vẫn được cải thiện nhiều, có một đời sống dễ dãi được. Thái Dương cư Hợi lại hay vô cùng nếu như nó gặp Thiên Mã Hóa Lộc, Lộc Tồn tức cách Lộc Mã giao trì. Cách này bỏ xứ bỏ quê mà đi trồi phấn đấu thành công phú quí.

Thái Dương tại Hợi phú gọi bằng Nhật trầm thủy để (mặt trời chìm sâu
đáy nước) có Lộc Mã giao trìlại thêm cả Binh hình Tướng Ấn thì ăn to vào thời loạn. Chư tinh vấn đáp viết: “Thái Dương được các cát tinh khác thủ hay chiếu, rồi lại có Thái Âm đồng chiếu giàu sang đủ cả…Nếu Thân cung Thái Dương đắc địa mà gặp nhiều cát tinh khả dĩ làm môn hạ khách chốn công hầu, hoặc làm dân chạy cờ cho bậc công khanh.
Thái Dương vào Mệnh với vào Thân cung rõ ràng tạo ảnh hưởng khác biệt hẳn. Một đằng tự mình gầy dựng phú quí, một đằng chỉ làm môn hạ khách ở nơi cửa quyền. Trừ trường hợp Mệnh cung tự nó có cách tốt riêng. Trường hợp Thân cư phối thì số gái lấy chồng sang, số trai được vợ giàu sang hoặcgia đình vợ thế lực nâng đỡ, nhờ vã nhà vợ mà lên to. Thái Dương ưa Xương Khúc và sợ Hóa Kị. Có lý luận cho rằng nếu Thái Dương đắc địa gặp Hóa Kị càng tốt. Hóa Kị như đám mây ngũ sắc khiến Thái Dương thêm rực rỡ. Không phải vậy, Thái Âm gặp Hóa Kị đắc địa, Hóa Kị khả dĩ biến thành đám mây ngũ sắc, còn với Thái Dương thì không. Hóa Kị là đám mây đen, là ám tinh trong khi tính chất căn bản của Thái Dương là quang minh, quang với ám chẳng thể hợp cùng. Nhất là Mệnh nữ Thái Dương mà có Hóa Kị tất nhiên hôn nhân gẫy vỡ, lúc nhỏ mồ côi cha hoặc xa cách, hoặc thiếu vì Thái Dương Hóa Kị như thế bất lợi hoàn toàn với những người thân thuộc nam tính. Ngoài ra còn có thể bị xảy thai, trụy thai.

Thái Dương hãm hội Riêu Kị, Thiên Hình hoặc Kình Đà khó tránh khỏi bệnh tật ở đôi mắt.

“Kình Đà Riêu Kị phá xung Lại là đôi mắt chẳng mong được cùng Kình Đà Riêu Kị khá kinh Ắt rằng mắt chịu tật hình không ngoa”

Gặp Riêu Kị rồi Kình Đà hay Hỏa Linh thì cũng thế.
Thái Dương thủ Mệnh còn cách cục trọng yếu khác: Nhật chiếu lôi môn, tức thái dương đóng tại Mão. Mão thuộc cung chấn, Chấn vi lôi (sấm sét). Khi đóng Mão đương nhiên Thái Dương đứng cùng Thiên Lương. Cách Nhật chiếu lôi môn tuyệt đối tốt nếu hội cùng Thái Âm Hợi với Hóa Lộc, thêm Văn Xương Văn Khúc càng đẹp lắm, nhất là đối với chuyện thi cử khoa bảng. Như phú viết:”Dương Lương Xương Lộc, lô truyền đệ nhất danh” (Dương Lương Xương Lộc loa gọi người đỗ đầu) Hiện đại cách Dương Lương Xương Lộc có thể là nhà phát minh, người làm những cuộc nghiên cứu nổi danh, một tay thể thao tăm tiếng…Cách Dương Lương Xương Lộc phải là Thái Âm đi với Hóa Lộc chiếu qua mới hợp cách. Nếu hóa Lộc đứng ngay bên cạnh Thiên Lương thì lại kém hẳn. Tại sao? Vì quan hệ Thiên Lương với Hóa Lộc không ổn thỏa (sẽ bàn khi luận về Thiên Lương)

Về cách Thái Dương cặp với Cự Môn tức “Cự Nhật đồng lâm”, hãy xếp qua phía Cự Môn. Ngoài ra còn những cách: Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi, Nhật Nguyệt chiếu bích, Nhật Nguyệt tịnh minh.

Nhật Nguyệt tịnh minh gồm có Dương tại Thìn, Âm tại Tuất hoặc Dương tại Tị, Âm tại Dậu. Cách Nhật Nguyệt tịnh minh cũng như các cách khác cần Tả Hữu, Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc, học đỗ cao, địa vị xã hội vững, kém hơn nếu bớt đi những phụ tinh, tuy nhiên không kể làm cách đặc biệt.
Về Nhật Nguyệt đồng cung Sửu Mùi, nếu Mệnh VCD Nhật Nguyệt Mùi hoặc Sửu thì chiếu đẹp hơn là thủ Mệnh. Căn cứ vào câu phú:”Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu”
Phú đưa ra những câu: “Nhật Nguyệt đồng Mùi, Mệnh an Sửu hầu bá chi tài Nhật Nguyệt Mệnh Thân cư Sửu Mùi, tam phương vô cát phản vi hung”Cách trên là cách Nhật Nguyệt chiếu, cách dưới là cách Nhật Nguyệt đồng thủ Mệnh. “Mấy người bất hiển công danh Bởi chưng Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi”“Nhật Mão, Nguyệt Hợi Mệnh Mùi cung, đa triết quế” nghĩa là Mệnh lập tại Mùi không chính tinh, Hợi Nguyệt chiếu lên, Nhật Mão chiếu qua học hành đỗ đạt cao, lấy vợ giàu sang.

Trường hợp Thái Dương đắc địa gặp Hóa Kị thế nào? Tỉ dụ Thái Dương tại Tỵ thì Cự Môn đương nhiên tại Hợi, nếu có Hóa Kị hợp với Cự Môn hẳn nhiên xấu, tranh đấu cho sự thành đạt khó khăn vất vả hơn gấp bội. Thái Dương đắc địa bị Hóa Kị dễ chiêu oán, nếu đi vào ngành thầy kiện, thầy cò, cảnh sát làm chức nghiệp sinh sống hợp hơn ngành khác. Thái Dương là Mặt Trời là nguồn sống của vạn vật. Có thể nói mọi sinh vật trên quả đất này đều được hưởng ân huệ của Thái Dương, Thái Dương ban phát ân huệ một cách vô tư, không tính toán, không hề đòi lại, chỉ có cho mà không có nhận.

Trong khoa Tử Vi, căn cứ vào vị trí Mặt Trời, Mặt Trăng mà chúng ta có địa bàn 12 cung dùng để xem Tử Vi. Thái Dương chính là Mặt Trời là điểm khởi đầu cho tất cả. Các bạn có thể đọc trong Tử Vi Hoàn Toàn Khoa Học của Tiến Sỹ Đằng Sơn để hiểu thêm rằng khoa Tử Vi thật ra khởi đầu bằng hai sao Âm Dương chứ không phải Tử Phủ.

Thái Dương là dương hỏa tượng trưng cho ánh sáng của lý trí, của sự thông minh kiêu hãnh. Đã là nguồn gốc của vạn vật, ai cũng được hưởng ân huệ của Thái Dương cho nên bất cứ tuổi nào mệnh nào cũng được hưởng ít nhiều từ sao Thái Dương, được hưởng nhiều nhất là người mệnh Hỏa, thứ nhì là mệnh Thổ, các mệnh Kim Thủy Mộc hưởng như nhau.

Sao Thái Dương trong Tử Vi tượng trưng cho Bố, con mắt bên phải, cho lý trí cho sự thông minh, sự khoan hòa độ lượng, cũng như sự nóng nảy và ganh tỵ. Dù đóng bất cứ tại cung nào, Thái Dương cũng ảnh hưởng mạnh đến cuộc đời của đương số.

Thái Dương là nguồn sáng thiên nhiên vô tận, lúc nào cũng vươn lên cao hơn đẹp hơn. Khi gặp Tuần, Triệt cũng chỉ làm ban đầu trắc trở thôi, chứ bảo Tuần Triệt làm cho Thái Dương miếu vượng trở nên u ám đen tối là sai. Thái Dương miếu vượng chính là sự vươn lên đấu tranh không mệt mỏi, Tuần Triệt chỉ có thể gây khó khăn ban đầu mà thôi, cuối cùng Thái Dương cũng vẫn vươn lên tỏa sáng. Thái Dương hãm ngộ Tuần Triệt sáng ra cũng không đúng, trường hợp này Tuần Triệt cũng chỉ là kềm chế hãm lại những cái xấu của Thái Dương hãm địa mà thôi. Cho nên ta chỉ nên nói: Thái Dương miếu vượng ngộ Tuần Triệt thì ban đầu khó khăn, về sau vẫn thành công, Nhật miếu vượng vẫn là miếu vượng. Nhật hãm ngộ Tuần Triệt thì những cái xấu bị chế giảm bớt cho nên ta thấy may mắn hơn dễ chịu hơn nhưng Nhật hãm vẫn là hãm, Tuần Triệt không thể làm mất hết cái hãm kia đi được.

Thái Dương miếu vượng hóa khí là Quyền và Lộc ngoài ra còn là biểu tượng của Trí Tuệ Thông Thái, cho nên đóng vào cung Mệnh hay Quan Lộc là hợp nhất, đóng cung Thiên Di là số xuất ngoại làm giàu, đóng cung Tài bạch, Điền Trạch đem lại tiền tài của cải nhiều. Đóng cung Phúc Đức là người được hưởng phúc ấm của tổ tiên. Đóng cung Phu Thê là số có được vợ chồng giàu có, trường hợp Nữ cung Phu có Thái Dương tối quý. Nói chung Nhật miếu vượng đóng cung nào giáng phúc cho cung đó.

Thái Dương không bao giờ Hóa Khoa, cho nên Nhật còn tượng trưng cho tính cực đoan, ganh tỵ. Nhật miều vượng thủ mệnh là người ngoài mặt rất hòa đồng nhưng trong lòng bao giời cũng muốn hơn người, thấy người khác giỏi hơn thì không vui. Tuy nhiên, do bản chất là rộng lượng cho nên người có Nhật miếu vượng thủ mệnh nếu thấy người khác hơn mình thì bản thân tự phấn đấu rèn luyện để hơn người ta , chứ không âm mưu hãm hại , không ganh ghét tài năng. Thái Dương hãm, dù đóng bất cứ nơi nào cũng phải luận đoán là tuổi trẻ buồn nhiều hơn vui, về hậu vận mới thong dong. Trong trường hợp này nếu gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền sẽ là phản vi kỳ cách, gặp Tuần Triệt thì những cái xấu sẽ giảm đi. Tuy nhiên dù có phản vi kỳ cách hay gặp Tuần Triệt cũng là “Tiền bần hậu phú”, phải phấn đấu nỗ lực nhiều mới thành công.

Thái Dương là Mặt Trời là nguồn sống của vạn vật. Có thể nói mọi sinh vật trên quả đất này đều được hưởng ân huệ của Thái Dương, Thái Dương ban phát ân huệ một cách vô tư, không tính toán, không hề đòi lại, chỉ có cho mà không có nhận.

Trong khoa Tử Vi, căn cứ vào vị trí Mặt Trời, Mặt Trăng mà chúng ta có địa bàn 12 cung dùng để xem Tử Vi. Thái Dương chính là Mặt Trời là điểm khởi đầu cho tất cả. Các bạn có thể đọc trong Tử Vi Hoàn Toàn Khoa Học của Tiến Sỹ Đằng Sơn để hiểu thêm rằng khoa Tử Vi thật ra khởi đầu bằng hai sao Âm Dương chứ không phải Tử Phủ.

Thái Dương là dương hỏa tượng trưng cho ánh sáng của lý trí, của sự thông minh kiêu hãnh. Đã là nguồn gốc của vạn vật, ai cũng được hưởng ân huệ của Thái Dương cho nên bất cứ tuổi nào mệnh nào cũng được hưởng ít nhiều từ sao Thái Dương, được hưởng nhiều nhất là người mệnh Hỏa, thứ nhì là mệnh Thổ, các mệnh Kim Thủy Mộc hưởng như nhau. Với các Chính Tinh, Thái Dương chỉ có thể đi cùng Thái Âm (ở Sửu Mùi),Cự Môn (Dần Thân), Thiên Lương (Mão Dậu).
Nhật Lương: Nhật và Thiên Lươngđồng cung ở Mão Dậu, ở Mão tốt hơn nhiều ở Dậu. Ở Mão chính là cách Nhật Xuất lôi môn. Người nào có cách này tất có thêm Thái Âm miếu ở Hợi chiếu về nữa. Nếu cung Mệnh hay Thân an ở Mùi thì gọi là cách Nhật Nguyệt tịnh minh, rất tốt. Nếu hội đủ Xương Khúc Khoa Quyền Lộc Tả Hữu là người rất thông minh,
có tài kinh bang tế thế, hơn thế cũng là người có tấm lòng nhân hậu, bác ái. Nếu là quan chức cũng là người có trách nhiệm hết lòng vì nước non. Nhật Lương cư Dậu tất có Thái Âm hãm ở Tỵ chiếu, cách này không được gọi là Nhật Nguyệt tịnh minh nữa, chỉ khi cả Nhật Nguyệt ngộ Tuần Triệt, Tam Minh, Tam Hóa (Khoa Quyền Lộc), mới mở mày mở mặt được. Nếu không được như trên lại gặp Tam Ám, Lục Sát tinh thì cả đời u mê, gian khổ, chỉ có đi tu mới yên thân được.

Bộ Nhật Lương tối kỵ sao Hóa Kỵ và Lục Sát tinh đồng cung sẽ thành ra phá cách. Riêng hai sao Linh Hỏa không nguy hại như Kình Đà Không Kiếp, Nhật miếu vượng có thể điều khiển được Linh Hỏa, nhưng cái dở ở đây là sao Thiên Lương rất ngại gặp bộ Sát tinh này. Cho nên Nhật Lương nói chung cần tránh xa các Sát tinh, Hóa Kỵ. Gặp Tuần Triệt không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần Triệt rất cần Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản phá hoại của Tuần Triệt.

Cự Nhật: Ai cũng biết câu: “Cự Nhật Dần Thân quan phong tam đại, thực lộc trì danh”, mệnh vô chính diệu có CỰ NHẬT chiếu cũng rất tốt. Cự Nhật ở Dần tốt hơn ở Thân. Khi Cự Nhật ở Dần mà Mệnh đóng ở đây chắc chắn cung Quan Lộc , cung Tài Bạch, cung Thiên Di vô chính diệu,
vậy tại sao lại có thể “Quan Phong Tam Đại” được??

Xin thưa, sao Thái Dương khi đi với Cự Môn thành bộ Cự Nhật, sách tử vi cũng nói bộ Cự Nhật là 1 trong 5 bộ Thượng Cách của Tử Vi bao gồm: Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Nhật Nguyệt. Những bộ Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham hay Cơ Nguyệt Đồng Lương thì rõ ràng sẽ chia ra đóng ở Mệnh Quan Tài. Vậy còn bộ Cự Nhật chỉ có hai sao, tại sao lại xếp ngang bằng các cách có 4 sao kể trên. Ta có thể lý giải như sau: Các Tinh Đẩu trong Tử Vi có thể xem xét như các sóng năng lượng ảnh hưởng lên cuộc đời mình, cho nên khi các tinh đẩu được đóng tại nơi miếu vượng lại có đầy đủ cả bộ, các mức năng lượng sẽ giao thoa cộng hưởng tăng cường lẫn nhau.

Cự Nhật đều vượng tại Dần, đồng cung tại Dần Cự Nhật sẽ giao thoa nhau tăng mạnh ảnh hưởng lên rất nhiều. Lúc này bộ Cự Nhật không những ảnh hưởng mạnh tại chính cung mà còn ảnh hưởng mạnh đến cung xung chiếu và hai cung tam hợp. Thành ra Mệnh Cự Nhật tại Dần cho các tuổi Mộ, nều đắc vòng Thái Tuế nữa mới toàn mỹ bởi vì cung Quan Tài chịu ảnh hưởng của Cự Nhật chiếu đền có thể xem như có Cự Nhật tọa thủ, hội thêm Long Hổ Hoa ( nhường Phượng Các cho đồi phương), cung Di sẽ có Mã ngộ Khốc Khách được Thái Dương ở Dần chiếu, Thái Âm ở Ty hợp chiếu, chính là Thư Hùng mã vậy. Mệnh có Cự Nhật không
đắc Thái Tuế thì chỉ có danh tiếng, thông minh chứ quyền cao chức trọng giàu có lớn thì không.

Cự Nhật ở Dần gặp Tuần Triệt cũng không sợ, bản thân Thái Dương miếu vượng ít ngại Tuần Triệt, Cự Môn vượng lại rất cần Tuần Triệt, Tuần Triệt sẽ như sấm sét làm vỡ đá ra để cho Cự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng. Trường hợp này nếu gặp thêm Song Hao nữa thật toàn mỹ, Song Hao miếu sẽ hãm tác dụng của Triệt Tuần lại làm cho Thái Dương không bị cản ngăn nữa, ngoài ra có Song Hao Cự Môn đã đẹp lại càng đẹp. Hội thêm Xương Khúc Tả Hữu Khoa Lộc Quyền Khôi Việt Quang Quý thì là số tối quý, làm nên sự nghiệp rực rỡ. Rất hiếm có Lá Số nào được như thế.

Cự Nhật tại Dần rất kỵ Lộc Tồn, chẳng khác nào Ngọc Quý bị che mất: “Cự Nhật cư Dần, Thiên Môn Nhật Lãng, kỵ gặp Lộc Tồn, ái giao Quyền Phượng”. Trường hợp Cự Nhật tại Dần Thân đều tối kỵ Đà La Kình Dương và Hóa Kỵ, sẽ là phá cách, cả đời bất đắc chí. Gặp Linh Hỏa không đáng lo, gặp Không Kiếp đời có lúc hoạnh phát nhưng rồi cũng sẽ tàn lụi nhanh chóng.

Cự Nhật rất cần Xương Khúc Tả Hữu, nếu có Quang Quý ở Quan và Di
chiếu về thì làm cho Thái Dương trở nên hòa dịu hơn, bớt kiêu căng.

lưu ý Nhật miếu vương thủ Mệnh bao giờ cũng có tính kiêu căng, không ít thì nhiều).

Văn Khúc

Thần của người ưa thanh mà tâm thường biến động

Tâm của người ưa tĩnh mà thường bị dục kéo lôi

Vậy nên

Chế được dục thì tâm tự tĩnh

An được tâm thì thần tự thanh .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *